Wednesday, August 19, 2015

Tiền tiểu đường là một điều kiện mà một người có cao hơn so với bình thường mức độ glucose trong máu. Lượng glucose là không đủ cao để đáp ứng các tiêu chí để được chẩn đoán là bị bệnh tiểu đường đang phát. Tiền tiểu đường cũng có thể xảy ra trong thời gian mang thai của một người phụ nữ không có tiền sử bệnh tiểu đường trước khi mang thai. 



Trong thời gian mang thai, tiền đái tháo đường được thực hiện nghiêm túc vì nó có thể dẫn đến bệnh tiểu đường thai kỳ, do đó có thể dẫn đến các vấn đề cho cả mẹ và bé. Nếu không điều trị, phụ nữ mang thai, và bất cứ ai có tiền đái tháo đường có thể bị tổn thương lâu dài đến mắt, tim và hệ tuần hoàn.

phong-ngua-tien-tieu-duong
Hình minh họa. internet
Nguyên nhân gây tiền tiểu đường trong thai kỳ?

Tiền tiểu đường trong thai kỳ được gây ra bởi sự tích tụ của các đường trong máu của bạn gây ra bởi hormone được sản xuất trong nhau thai. Tích tụ đường này thường được quản lý tốt với lượng insulin được sản xuất trong tuyến tụy. Các mức độ glucose và insulin trong máu mất cân bằng. Nếu tuyến tụy không có khả năng để quản lý sự tích tụ đường, lượng đường trong máu của bạn sẽ tăng lên và điều này có thể gây ra bệnh tiểu đường thai kỳ. Đường huyết cao và ketones có thể đi qua nhau thai và làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh và sẩy thai.

Các yếu tố nguy cơ tiền tiểu đường
- Trọng lượng
- Dân tộc
- Lượng đường trong máu cao trước khi mang thai
- Lịch sử gia đình
- Lịch sử của bệnh tiểu đường thai kỳ trước

Tiền tiểu đường thường không gây triệu chứng, vì vậy cách duy nhất để thiết lập một chẩn đoán là thông qua thử nghiệm. Thông thường, một người phụ nữ được thử nghiệm tại 24-28 tuần nếu cô ấy là cân nặng bình thường và có yếu tố nguy cơ tối thiểu. Những người có nguy cơ cao được kiểm tra sớm hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tiền đái tháo đường và bệnh tiểu đường thai kỳ là do quá cân. Nếu bạn đang thừa cân trước khi mang thai, khả năng phát triển tiền đái tháo đường đang tăng lên.

Một số dân tộc có nhiều nguy cơ, bao gồm cả người Mỹ gốc Phi, Châu Á, Tây Ban Nha, người Mỹ bản xứ hoặc Thái Bình Dương.

Nếu bạn đã từng có một vấn đề với mức độ đường trong máu cao trước khi mang thai, nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường trước khi có thể dẫn đến thai tăng bệnh tiểu đường. Bạn đã có một lịch sử gia đình của bệnh tiểu đường? Nếu vậy, bạn có nhiều nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường trước. Nếu bạn đã có tiền đái tháo đường hay tiểu đường thai kỳ trong lần mang thai trước đó, bạn cần được theo dõi chặt chẽ trong quá trình mang thai sau.

Nguy cơ cho trẻ sơ sinh

Nếu tiền tiểu đường được xử lý kém hoặc không được điều trị, nó có thể dẫn đến bệnh tiểu đường thai kỳ mà có thể có ảnh hưởng nghiêm trọng đến em bé. Nhau thai là không vượt qua bởi insulin, nhưng bởi glucose và chất dinh dưỡng khác. Tuyến tụy của em bé sau đó được kêu gọi để tạo ra nhiều insulin hơn để cố gắng thoát khỏi nó của glucose máu thêm. Thêm năng lượng mà các em bé được nhận làm cho anh / cô ấy để đạt được trọng lượng bổ sung.

Bởi vì em bé của các bà mẹ bị tiểu đường thai kỳ thường là lớn hơn, biến chứng trong khi sinh có nhiều khả năng xảy ra. Họ cũng có nguy cơ bị béo phì sau này trong cuộc sống cũng như để phát triển bệnh tiểu đường tự.

Ngăn chặn tiền tiểu đường


Hầu hết các yếu tố nguy cơ bị tiền tiểu đường là ngoài tầm kiểm soát của bạn. Nếu bạn có một số yếu tố nguy cơ được liệt kê ở trên, điều tốt nhất bạn có thể làm để ngăn chặn tiền đái tháo đường là theo dõi cân nặng của mình và không đi vào thời kỳ mang thai của bạn thừa cân.

Một lối sống lành mạnh có thể là điều tốt nhất bạn có thể làm để ngăn chặn tiền đái tháo đường cũng như giảm bớt những ảnh hưởng của tiền đái tháo đường. Cắt giảm lượng chất béo bạn ăn, ăn các phần nhỏ hơn và thêm trái cây tươi và rau quả vào chế độ ăn của bạn sẽ cải thiện sức khỏe tổng thể của bạn và giúp kiểm soát lượng đường trong máu của bạn.

Tăng hoạt động thể chất của bạn sẽ không chỉ giúp bạn kiểm soát cân nặng của bạn, nhưng cũng sẽ giúp cơ thể bạn sử dụng insulin mà nó sản xuất chuyển đổi nó thành năng lượng và giữ cho lượng đường trong máu của bạn dễ quản lý.


Con số trẻ em ở Đức mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 tăng đột biến. Nguyên nhân không phải do nghiện đồ béo hay đồ ngọt. Lý do vẫn chưa rõ.



Bác sỹ trưởng của bệnh viện nhi ở Hannover kiêm chủ tịch hội Hỗ trợ bệnh nhân tiểu đường Đức, Thomas Danne cho rằng nếu tìm ra được nguyên nhân bệnh tiểu đường type 1 tăng thậm chí có thể nhận được giải Nobel. Ngày càng nhiều trẻ bị mắc tiểu đường dạng 1, và bệnh xuất hiện ngày càng sớm. 

Tiểu đường trẻ em đang tăng nhanh
Tiểu đường là bệnh rối loạn trao đổi chất thường thấy nhất ở trẻ. Gần 30.000 trẻ dưới 18 tuổi ở Đức mắc bệnh tiểu đường tuýp 1. Theo nhiều nguồn khác nhau thì hàng năm con số trẻ mới mắc bệnh tăng khoảng 2-4%. Hệ thống miễn dịch gây rối loạn và phá hủy các tế bào sản xuất insulin. Dạng 2, còn gọi là đái tháo đường ở người lớn, insulin thường không đủ với người béo phì, cơ thể tới lúc nào đó không thể sản xuất thêm cho đủ. Tình trạng này chỉ góp phần nhỏ ở trẻ. 

Phần Lan là nước có nhiều trẻ mắc tiểu đường type 1 nhất. Có khoảng 20 gen liên quan tới tiểu đường tuýp 1. Thiếu vitamin D cũng có thể là vấn đề, hay do chế độ ăn uống không hợp lý. Danne nói: “Chúng tôi biết bệnh là do một loại virus nhất định gây ra, nhưng có thể chắc chắn một điều là đồ ngọt không liên quan.” 

Trẻ nhỏ mắc bệnh thường là gánh nặng lớn với gia đình. 6 lần một ngày phải lấy đường trong máu để kiểm tra và khoảng 4 lần tiêm insulin vào cơ thể. Nhiều khi còn phải đánh thức trẻ vào ban đêm. Sự phát triển, vận động và nhiễm trùng ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất theo cách không lường trước được. 

Trong trường hợp xấu nhất, lượng đường cao có thể gây tử vong. Hạ đường huyết cũng nguy hiểm không kém, nó gây tình trạng suy giảm nhận thức. Khi đứa trẻ lớn lên và có trách nhiệm với bản thân, thì điều này không hẳn là dễ dàng hơn. 

Trẻ vị thành niên hay bị hạ đường huyết do uống rượu hay sử dụng thuốc Exstasy. Danne kể chuyện về một cậu thanh niên bị hạ đường huyết khi chơi thuyền buồm. Cậu nói với bạn mình là sẽ ăn rồi bơi vào bờ. Nhưng cuối cùng cậu không thể tới nơi. 

Nguyên nhân của bệnh đái tháo đường dạng 2 là do cấu trúc gen, béo phì và lười vận động. 6 triệu người Đức mắc dạng 2 này, trong đó phần nhiều là thanh niên, hiếm thấy ở trẻ em. Phó chủ tịch nhóm nghiên cứu bệnh tiểu đường của trung tâm Helmholt, Munic, Michael Hummel cho biết, đái tháo đường type 2 tăng ở trẻ em là không đúng, độ tuổi thường thấy là 25-35 tuổi. 

Trong cuộc chiến chống lại sự béo phì 20 nước trên thế giới đã quyết định tăng thuế đối với đồ uống chứa đường, nhiều nước như Mexico đang cân nhắc việc này. Ở đó có tỉ lệ người béo phì nhiều hơn cả Mỹ và cứ 10 người lại có 1 người bị tiểu đường. 

Dạng 2 có thể trị liệu bằng việc giảm cân và vận động nhưng type 1 thì không có thuốc chữa. “Điều duy nhất có thể làm là đưa insulin vào, chúng tôi chỉ có thể đưa ra những giải pháp kỹ thuật”, ông Danne nói. Mới đây các bệnh nhân được dùng thử tuyến tụy nhân tạo tại nhà. Thiết bị này tự động đo lượng đường trong mô tế bào, và đưa vào lượng insulin vừa đủ. Đây có thể là hy vọng mới cho trẻ mắc bệnh tiểu đường. 
 
 

Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) vừa đưa ra cảnh báo về tác dụng phụ nguy hiểm đến sức khỏe bệnh nhân của thuốc điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2.


Theo thống kê năm 2012, dùng thuốc điều trị bệnh tiểu đường (đái tháo đường) là một trong những phương pháp phổ biến nhất ở Mỹ với khoảng 21 triệu người Mỹ phải dùng thuốc hạ thấp hàm lượng đường trong máu và có hơn 90% trong số này đang điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2.

Thuốc trị đái tháo đường Invokana đã được Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt và được phép đưa vào điều trị cho bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 vào tháng 3/2013. Thuốc trị đái tháo đường tuýp 2 Invokana được sản xuất bởi Công ty Janssen Pharmaceuticals, có trụ sở tại Raritan, New Jersey, Mỹ hoạt động theo cách ngăn chặn tái hấp thu glucose qua thận, làm giảm mức độ đường trong máu cũng như bài tiết các chất không cần thiết khác. 

tac-dung-phu-nguy-hiem-cua-thuoc-dieu-tri-tieu-duong
Thuốc điều trị bệnh tiểu đường gây ra những tác dụng phụ nguy hiểm cho các bệnh nhân

Theo dữ liệu của Viện Nghiên cứu An toàn Dược phẩm (ISMP), trong năm đầu tiên khi Invokana được phê duyệt, đã có 426.000 lượt kê đơn cho bệnh nhân nhưng có 457 báo cáo về các tác dụng phụ của thuốc liên quan đến các biến chứng của thận. Cụ thể, các tác dụng phụ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp gây suy thận, sỏi thận, nhiễm trùng đường tiết niệu, mất nước, quá mẫn cảm và giảm cân bất thường.

Ngoài ra, FDA còn đưa ra cảnh báo, loại thuốc này có thể gây nhiễm toan ceton (ketoacidosis) – một biến chứng cấp tính của bệnh tiểu đường khi đường huyết tăng cao, nồng độ axit ceton trong máu tăng cũng như xuất hiện ceton nước tiểu gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân. Từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2014, các nhà nghiên cứu và khai thác thuộc Hệ thống Báo cáo Tác dụng phụ (AERS) của FDA đã phát hiện 23 trường hợp nhiễm axit ceton liên quan đến việc sử dụng thuốc Invokana.

Bên cạnh đó, trước khi được FDA phê duyệt vào năm 2013, mối lo ngại về vấn đề tim mạch cho những người mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng nổi lên liên quan đến việc sử dụng Invokana. Với những tác dụng phụ nguy hiểm này, người bệnh nên theo dõi chặt chẽ việc sử dụng thuốc và thường xuyên đi khám sức khỏe để có phương pháp xử lý kịp thời.

Tuesday, August 18, 2015

Tại Việt Nam, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong 10 năm qua có xu hướng gia tăng. Theo thống kê chúng ta có 5 triệu người mắc bệnh đái tháo đường (số liệu 2014), nhưng trong đó có đến 65% người bệnh không hề biết mình mắc bệnh. 

 
 
Với tỉ lệ bệnh nhân tăng từ 8-10%/năm, Việt Nam trở thành nước có tỉ lệ gia tăng bệnh đái tháo đường nhanh nhất thế giới. 
 
kham-tieu-duong-dinh-ky
Chỉ khoảng 8% bệnh nhân phát hiện ĐTĐ khi khám sức khoẻ định kỳ.

6 người bệnh tử vong/phút trên toàn cầu

Bệnh tiểu đường được đánh giá là tiến triển âm thầm, cùng tỉ lệ tử vong cao (khoảng 6 người bệnh tử vong/phút trên toàn cầu). Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có hơn 190 triệu người mắc bệnh tiểu đường và con số này đang tiếp tục tăng lên. Ước tính đến năm 2025 sẽ lên đến 330 triệu (gần 6% dân số toàn cầu).

Tuy nhiên theo các chuyên gia thì ở Việt Nam, có tới hơn 85% số bệnh nhân khi được phát hiện đã có biến chứng, chỉ có khoảng 8% số bệnh nhân phát hiện được bệnh khi khám sức khoẻ định kỳ. Do phát hiện bệnh muộn, đến bệnh viện muộn, đã dẫn tới chi phí cho mỗi đợt điều trị của bệnh nhân rất tốn kém.

Nguyên nhân sinh hoạt thiếu hợp lý

Theo các chuyên gia Nội tiết, sở dĩ Việt Nam có sự gia tăng chóng vánh về bệnh đái tháo đường, bên cạnh các yếu tố khách quan do di truyền, sắc tộc, môi trường địa lý,... nó là hệ quả trực tiếp do thói quen sống chưa lành mạnh. Nền kinh tế phát triển, ăn uống dư thừa, sử dụng đồ ăn nhanh thường xuyên khiến thiếu dinh dưỡng nhưng lại thừa năng lượng. Đặc biệt lối sống tĩnh tại đã ăn sâu vào tâm trí lớp trẻ. Nếu trước kia, người ta thường xuyên phải đi bộ, đạp xe đi làm thì ngày nay đã thay bằng các phương tiện như ô tô, xe máy… Kèm theo áp lực công việc và cuộc sống, tình trạng căng thẳng kéo dài,... đều là những nhân tố tác động đến khả năng mắc bệnh tiểu đường.

Bệnh nhân tiểu đường đối diện nhiều biến chứng nguy hiểm


Cùng với thời gian mắc bệnh, bệnh nhân tiểu đường phải đối diện với nhiều biến chứng nguy hiểm. Khoảng 20% người đái tháo đường gặp các biến chứng về mắt như: tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể và có khoảng 85% người tiểu đường sau này sẽ có biến chứng tổn thương võng mạc. Nếu mắc bệnh trong khoảng 12 năm thì có nguy cơ mắc biến chứng suy thận. Đặc biệt biến chứng gây đớn đau nhất cho người bệnh là hoại tử chi. Biến chứng này khiến người tiểu đường đôi khi bị đau hoặc có vết thương hở ở chân nhưng mất cảm giác nên dễ nhiễm trùng. Mặt khác, tiểu đường làm hỏng các mạch máu ngoại biên dẫn máu đến nuôi chân và bàn chân. Các vết loét vì thế lâu lành và càng dễ nhiễm trùng. Nhiễm trùng nếu nặng, có thể đưa đến cưa bàn chân hay chân. Trên phạm vi toàn thế giới cứ 30 giây lại có một bệnh nhân đái tháo đường bị cắt cụt chân. Nguy cơ cắt cụt chân ở bệnh nhân đái tháo đường cao gấp 15-46 lần so với người không bị bệnh.

Kiểm soát đường huyết trong ngưỡng an toàn

Các chuyên gia khuyến cáo, để ngăn ngừa biến chứng yếu tố đầu tiên người bệnh cần kiểm soát đường huyết trong ngưỡng an toàn, đường huyết càng gần mức bình thường thì nguy cơ biến chứng càng giảm. Tuy nhiên, biến chứng là kết quả của cả một quá trình diễn biến kéo dài, còn đường huyết cho biết lượng đường trong máu ngay tại thời điểm đo mà thôi. Do vậy, cùng với việc kiểm soát đường huyết thì người bệnh cần giảm chỉ số HbA1c. Để thực hiện đồng thời 2 mục đích này thì ngoài chế độ dinh dưỡng và luyện tập hợp lý, người bệnh nên dùng một số loại thảo dược từ thiên nhiên như: khổ qua, dây thìa canh, linh chi,… vừa giúp kiểm soát tốt biến chứng lại an toàn để sử dụng lâu dài, đặc biệt là đối với căn bệnh tiểu đường mà người bệnh vốn phải sống chung suốt đời.


Bên cạnh chuyện kiến bu nước tiểu ở người bệnh tiểu đường có lượng đường huyết tăng nhiều ngày, bệnh nhân còn khổ vì cảm giác kiến bò trên chân, trên tay dù tìm hoài chẳng thấy kiến nào trên da!


cam-giac-kien-bo-tren-da
Cảm giác kiến bò trên da ở bệnh nhân tiểu đường
Tê mỏi hạ chi, đau nhức bắp thịt dù không vận động, vọp bẻ về đêm khiến mất ngủ và nhất là cảm giác kiến bò dưới da là triệu chứng thường gặp ở người bệnh tiểu đường, ngay cả trong trường hợp lượng đường huyết được điều trị ổn định. Tình trạng này tất nhiên nghiêm trọng hơn nhiều ở đối tượng có lượng đường trong máu trồi sụt quá thất thường.

Viêm đa thần kinh ngoại biên tuy không trầm trọng trước mắt đến độ gọi là biến chứng trong bệnh tiểu đường nhưng rõ ràng là bệnh lý đi kèm như hình với bóng. Lý do rất dễ hiểu vì mạng lưới thần kinh ngoại biên khó tránh không bị công kích bởi các phế phẩm sản sinh trong tiến trình rối loạn biến dưỡng chất đường và chất béo. Thêm vào đó là rối loạn chất điện giải. Hậu quả là dẫn truyền thần kinh khó có tiến độ và chất lượng như mong muốn. Bắp thịt ở tứ chi, đặc biệt là hạ chi, rõ nét hơn hết là vùng bàn chân vì dễ thiếu máu do xa trái tim, khi đó khó tránh thiếu dưỡng khí cũng như dưỡng chất trong khi chất sinh đau nhức như acid uric, acid lactic… tích lũy càng lúc càng nhiều. Người bệnh tiểu đường nếu không đau, không tê mới là chuyện lạ!

Cơ chế sinh bệnh tuy không quá phức tạp nhưng thầy thuốc lại gặp trở ngại khi điều trị vì thuốc giảm đau tuy có tác dụng trước mắt nhưng rồi cũng chính thuốc làm tăng đường huyết!, nghĩa là vô tình tiếp tay cho bệnh tiểu đường! Đó là chưa kể đến phản ứng phụ khó tránh của thuốc hóa chất khi dùng dài lâu trên cơ thể đã mong manh lại thêm rất nhạy cảm của người bệnh tiểu đường! Liệu pháp lại không thể là chuyện ngày một ngày hai vì viêm đa thần kinh ngoại biên bám chặt người bệnh hơn đỉa đói!

Nếu tưởng viêm đa thần kinh ngoại biên là chuyện nhỏ vì không mấy ai vì thế phải nhập viện cấp cứu thì lầm. Tình trạng đau nhức tê mỏi kéo dài là lý do khiến nạn nhân mất dần chất lượng của cuộc sống. Mất ngủ, trầm uất, suy nhược thần kinh khi đó không mời cũng đến và là đòn bẩy để đường huyết càng dễ dao động thất thường. Không lạ gì khi nhiều thầy thuốc chuyên khoa nội tiết đã từ lâu áp dụng hoạt chất sinh học để ngăn chận biến chứng của tiểu đường trên thần kinh ngoại biên. Đáng tiếc là nhiều nhà điều trị ở xứ mình vẫn chưa kết hợp Đông Y trong phác đồ điều trị. Đáng tiếc hơn nữa là những cây thuốc đã được xác minh tác dụng “hoạt huyết” qua nghiên cứu lâm sàng cũng trên lâm sàng, vẫn chưa được vận dụng cho người bệnh tiểu đường theo nguyên tắc vàng của Đông Y. Đó là chữa bệnh khi bệnh chưa phát!

Nhiều thầy thuốc ở xứ mình dường như chưa nắm bắt được thông tin là y sĩ đoàn ở các nước châu Âu, nơi chắc chắn không thiếu thuốc giảm đau bằng hóa chất tổng hợp, đã từ lâu khuyến khích thầy thuốc bên đó áp dụng châm cứu để điều trị viêm thần kinh ngoại biên, để phòng chống hoại tử đầu chi… trong bệnh tiểu đường. Họ tất nhiên có cơ sở khoa học vững chắc khi khuyên như thế. Tại sao? Vì liệu pháp an toàn và hiệu quả, vì đó cũng chính là mong muốn đơn giản nhưng khẩn thiết của bệnh nhân.
 
 

Đái tháo đường (ĐTĐ) hiện được coi là một vấn đề sức khỏe toàn cầu và có thể nói đây là một đại dịch mà con người đang phải đối phó. Điều này hoàn toàn đúng khi xem xét về cả phương diện số người đã, đang và sẽ bị bệnh cũng như biến chứng mà người bị bệnh có thể gặp.


 
theo-doi-duong-huyet-voi-benh-nhan-tieu-duong
Hinh minh họa. internet
Đái tháo đường (ĐTĐ) hiện được coi là một vấn đề sức khỏe toàn cầu và có thể nói đây là một đại dịch mà con người đang phải đối phó. Điều này hoàn toàn đúng khi xem xét về cả phương diện số người đã, đang và sẽ bị bệnh cũng như biến chứng mà người bị bệnh có thể gặp.

Vùng nguy hiểm là gì?

Rất nhiều nghiên cứu y học đã chứng minh rằng bệnh ĐTĐ có những vùng đường huyết nguy hiểm. Đó là khi đường huyết quá thấp hoặc quá cao.

- Đường huyết xuống thấp dưới 60mg/dl có thể dẫn đến tình trạng hôn mê, thậm chí tử vong .

- Đường huyết tăng cao hơn 180mg/dl có thể gây tổn thương nhiều bộ phận quan trọng trong cơ thể như tim, mạch máu, mắt, thận và thần kinh.

Trung bình cứ 10 người bị ĐTĐ thì có 8 người bị mắc bệnh tim mạch và có tới 75% số ca tử vong ở người bệnh ĐTĐ týp 2 có liên quan đến bệnh tim mạch, chủ yếu donhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não.

Bệnh thận do ĐTĐ là nguyên nhân phổ biến nhất gây suy thận giai đoạn cuối, còn bệnh võng mạc do ĐTĐ cũng là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa.

Vùng nguy hiểm gây biến chứng thầm lặng

Vùng nguy hiểm của bệnh ĐTĐ là một khái niệm không hề mới đối với các thầy thuốc nhưng với bệnh nhân ĐTĐ thì còn rất nhiều người chưa biết hoặc có biết nhưng không hiểu rõ tầm quan trọng, ý nghĩa của khái niệm này. Trở ngại lớn nhất trong việc điều trị thành công bệnh ĐTĐ hiện nay không phải do thiếu trang thiết bị, thuốc, thiếu cơ sở điều trị hay thiếu thầy thuốc chuyên khoa mà chính là sự chủ quan và thiếu hiểu biết của người bệnh. Có rất nhiều người dù đã được cảnh báo nhưng vẫn chưa thấy hết được sự nguy hiểm của bệnh ĐTĐ vì "không thấy" có biến chứng. Do đó, họ ít quan tâm đến đường huyết của họ là bao nhiêu, cần thay đổi lối sống như thế nào để kiểm soát bệnh tốt. Chính vì sự thiếu hiểu biết về bệnh nên những người này rất ít đi khám và làm xét nghiệm đường huyết, có thể 2-3 tháng hoặc 6 tháng, có khi hàng năm mới đi kiểm tra đường huyết một lần.

Trong thực tế, chỉ khi đường huyết rất cao (trên 300mg/dl>16,5mmol/l) thì người bệnh mới có một số triệu chứng như mệt mỏi, đi tiểu nhiều và khát nước... Còn khi đường huyết cao trong khoảng 126-300mg/dl (7-16,5 mmol/l) thì người bệnh sẽ hầu như không cảm nhận được, bởi nó không gây đau đớn cũng không gây mệt mỏi hay khó chịu. Nhưng đó lại chính là lý do vì sao bệnh ĐTĐ lại gây ra biến chứng như vậy, bởi khi xuất hiện các triệu chứng thì các biến chứng do ĐTĐ gây ra đã trở nên nặng nề. Đa số bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có thể sống hàng tháng thậm chí hàng năm với mức đường huyết cao mà không hề biết là nhiều bộ phận trong cơ thể đang bị phá huỷ dần. Tại thời điểm đã có biến chứng thì dù có được điều trị tích cực và tốn kém thì hiệu quả điều trị thường là rất thấp. Như vậy nếu chờ đến khi có các triệu chứng mới bắt đầu điều trị là đã quá muộn.

Phát hiện sớm – giảm tỉ lệ biến chứng

Không chỉ đơn giản là chỉ có người đã được xác nhận bị bệnh có thể chịu các biến chứng này mà cả những người bị bệnh song chưa được phát hiện cũng chịu chung số phận. Điều mà các thầy thuốc nghiên cứu bệnh ĐTĐ quan tâm đó là không phải chỉ có người có biểu hiện triệu chứng mới là người bị bệnh mà vấn đề chính là làm thế nào để phát hiện sớm bệnh và giáo dục cộng đồng ý thức phát hiện bệnh sớm mới hy vọng ngăn ngừa được biến chứng do bệnh gây ra.

Phát hiện bệnh muộn và điều trị chậm trễ hay không đúng cũng góp phần làm tăng chi phí y tế và giảm chất lượng cuộc sống của người bị bệnh. Có thể làm giảm đáng kể hay làm chậm trễ xuất hiện các biến chứng do bệnh và giảm chi phí chăm sóc y tế nếu bệnh nhân ĐTĐ được kiểm soát "chặt chẽ" tình trạng tăng đường huyết của họ. Điều này chỉ có thể đạt được khi kết hợp đồng bộ các biện pháp phát hiện sớm bệnh, cải thiện chất lượng chăm sóc y tế và giáo dục người bệnh.

Một trong các mục tiêu quan trọng của các chương trình giáo dục cho người bệnh giúp họ nâng cao ý thức điều trị sớm bệnh ĐTĐ và cùng phối hợp với thầy thuốc kiểm soát thật tốt mức đường trong máu của họ là làm cho bệnh nhân hiểu rõ vùng "an toàn" của đường huyết và tránh không để đường huyết của mình tăng quá cao vào vùng "nguy hiểm". Nói đơn giản, đó là người bệnh cần hiểu rõ là khi nồng độ đường trong máu của họ không còn "bình thường" đó là họ đã có nguy cơ bị biến chứng thực sự mà không cần chờ có đủ các triệu chứng của bệnh hay xuất hiện các biến chứng mới cần được chăm sóc y tế. Phát hiện bệnh sớm, được chăm sóc y tế đúng và sớm chính là biện phát tốt nhất để sống "an toàn" với bệnh đái tháo đường. "Hãy tránh xa vùng nguy hiểm" - một khẩu hiệu không bao giờ cũ đối với người bệnh đái tháo đường và những người có nguy cơ bị bệnh trong tương lai.
 
 

Monday, August 17, 2015


Theo kết quả nghiên cứu của 14 nghiên cứu quốc tế, những người bị tiểu đường tuýp 2 dễ có chẩn đoán ung thư đại tràng hơn 38% so với những người không bị đái tháo đường.


tieu-duong-tuyp-2
Ảnh minh họa
Anh Hoàng Trung ở Vĩnh Tuy, Hà Nội mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 đã gần 5 năm nay, bao nhiêu tiền của đã đổ vào việc chạy chữa những cũng chỉ hạn chế phần nào căn bệnh. Nhiều lúc nghĩ tới bệnh tật cũng nản, nhưng có bệnh thì phải “vái tứ phương” chứ biết sao giờ.

Nhưng càng vái anh càng mệt, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Thời gian gần đây, anh thường thấy trong người thường khó tiêu, ăn uống kém hơn đợt trước, nhiều hôm đang ở nhà mà bụng lên cơn đau dữ dội, bụng nổi những u cục đau quặn, có những rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy kéo dài, khi anh uống thuốc để giữ nước và hạn chế tiêu chảy thì lại chuyển qua tình trạng táo bón.

Tuần trước, một cơn đau lại hành hạ anh khiến anh Trung không thể nào chịu đựng nổi, gia đình vội vã kêu xe đưa anh nhập viện nhờ bác sĩ kiểm tra. Qua các xét nghiệm, bác sĩ kết luận anh Trung đang bị ung thư đại tràng giai đoạn đầu, việc này khiến anh Trung sốc thực sự.

Theo ThS.BS Nguyễn Huy Cường: Bệnh tiểu đường (đặc biệt ở dạng tuýp 2) có khả ngăn mắc bệnh về ung thư dạ dày, tá tràng, ung thư đại tràng khá cao, bởi các bệnh nhân khi đã mắc đái tháo đường thì đều là những người tuổi cao, béo phì và hút thuốc lá. Chính vì vậy, khi một bệnh bùng phát, sức đề kháng của cơ thể cũng kém đi. Đây sẽ là nguyên nhân kéo theo những căn bệnh khác (đã được ủ bệnh từ lâu)

Đối với người ung thư đại tràng chưa biến chứng, phương pháp điều trị triệt để là cắt đại tràng. Đôi khi còn phải cắt bỏ toàn bộ một hay nhiều tạng bị ung thư xâm lấn hay di căn. Trường hợp ung thư di căn không thể cắt triệt để thì cắt bỏ đoạn ruột có khối u hoặc làm hậu môn nhân tạo, để đề phòng các biến chứng.

Trong trường hợp tắc ruột, phương pháp điều trị là cắt đại tràng kèm khối u hoặc làm hậu môn nhân tạo hoặc nối tắt nếu không cắt u được. Nếu khối u đã vỡ gây viêm phúc mạc thì phải cắt đại tràng có u và đưa hai đầu ruột ra ngoài.

Ngoài điều trị bằng phẫu thuật, người ta còn sử dụng hóa trị và miễn dịch để điều trị bổ túc sau cho các trường hợp có di căn xâm lấn. Không dùng xạ trị cho ung thư đại tràng vì dễ gây viêm nhiễm xạ cho các tạng trong ổ bụng.

- Ngoài 50, nên cẩn thận

Hiện nay, y học chưa biết chính xác nguyên nhân gây ung thư đại tràng. Tuy nhiên, có những yếu tố nguy cơ chắc chắn làm dễ mắc bệnh hơn như tuổi tác, vì có trên 9% bệnh nhân ung thư đại tràng là trên 50 tuổi. Ngoài ra, yếu tố di truyền cũng ảnh hưởng khá lớn. Nếu trong gia đình có người mắc bệnh ung thư đại tràng hay đường ruột, thì con cái cũng dễ mắc bệnh này.

Bên cạnh đó, chế độ ăn uống nhiều chất mỡ động vật, thịt màu đỏ, nghèo chất xơ nguồn gốc thực vật, ít vận động, béo phì, uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc lá… Những người mắc các bệnh đái tháo đường, viêm loét dạ dày tá tràng, người viêm ruột mãn tính cũng dễ mắc bệnh.

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, thì cả nam lẫn nữ nên đi khám bệnh tổng hợp hằng năm từ tuổi 50. Muốn phát hiện sớm bệnh ung thư đại tràng khi đang mắc bệnh đái tháo đường cần thử phân xem có chảy máu không, vì bệnh ung thư đại tràng là bệnh khó chuẩn đoán bằng các triệu chứng, lại dễ bị nhầm lẫn sang cá bệnh khác.

- Rau xanh, cà rốt và dầu ô liu


Đây là ba trợ thủ đắc lực đối với những ai không may bị ung thư đại tràng. Các nhà khoa học phát hiện ra loại axit maslinic trong dầu ô liu và đã chứng minh được rằng axit maslinic có tác dụng điều hòa tăng sinh tế bào và có thể dùng điều trị ung thư đại tràng. Còn các loại rau xanh như bắp cải, súp lơ xanh, cải xoong và trái cây như táo, lê, kiwi, mận, đào, nho, dâu tây, dưa hấu…

Ngoài việc cung cấp chất xơ và vitamin cùng khoáng chất cho cơ thể còn có nhiều hợp chất có khả năng kìm hãm sự phát triển những tế bào ung thư đại tràng và hạn chế khả năng di căn của loại ung thư này.

Một nghiên cứu mới đây tại Italy cũng cho thấy, cà rốt sống chứa một lượng lớn các hợp chất có khả năng chống lại bệnh ung thư đại tràng, trực tràng và hạn chế bệnh tiểu đường.